Trang ChủChính NghĩaBáo ChíDịch ThuậtTự ĐiểnThư QuánLưu TrữNHKSports TVMusicLotteryDanceVideos/TVSái G̣n RadioFox NewsReutersAP NewsWhite HouseLearning Tác PhẩmHistoryTinh HoaSáng TácDIển ĐànCongressUS HouseOAN NewsVấn ĐềĐà LạtBBCVOARFARFISBSVideosTác GỉaCNNUS Library

 

 

֎ Kim Âu ֎ Tinh Hoa ֎ Chính Nghĩa ֎ Bài Viết Của Kim Âu

֎ Vietnamese Commandos ֎ Một Trang Lịch Sử /details

֎ Một Trang Lịch Sử /djvu.txt ֎ Một Trang Lịch Sử /org/3

֎ Một Trang Lịch Sử/pdf ֎ Biệt kích trong gịng lịch sử

֎֎֎֎֎֎

◙◙◙◙◙◙◙◙◙◙◙◙◙◙◙◙◙◙◙◙◙

 

 

 

 

 

 

Nhân Sinh Tự Cổ Thùy Vô Tử. Lưu Thủ Đan Tâm Chiếu Hăn Thanh

 

 

 

SOUNDBITE:

"Right now I fight not only for my honour, not only for money but also for the future of America that is exactly what I want to see in the United States of America because I think this nation is the best nation of humans."

Ha Van Son, Former South Vietnamese Commando. June 19/1996

 

 

 

 

HỒI KƯ TRẠI GIAM CỔNG TRỜI

 

 

 

 

 

Tội Ác HCM và Đảng CSVN

LTS: Ông Kiều Duy Vĩnh là một trong những chứng nhân của sự độc ác cùng cực của cai tù CSVN tại nhà tù “Cổng Trời” tỉnh Hà Giang. Ông mất ở Việt Nam ngày 7 tháng 7, 2012 vừa qua, thọ 81 tuổi. Ông từng tốt nghiệp Vơ Bị cùng khóa với ông Nguyễn Cao Kỳ, là đại úy tiểu đoàn trưởng Nhảy Dù. Năm 1954 ông đă không theo đơn vị di cư vào Nam v́ lư do gia đ́nh. Ông đă bị bỏ tù hai lần 17 năm trong đó có nhiều năm ông bị giam ở “Cổng Trời,” nơi ông và một người nữa (ông Nguyễn Hữu Đang trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm) sống sót trong số 72 người tù ở cùng một phân trại. Ông kể lại những ngày tù ở “Cổng Trời” qua các hồi kư từng phổ biến trên tạp chí Thế Kỷ 21 cách đây hơn chục năm. Trong các hồi kư này, ông kể về sự kiên cường giữ vững niềm tin tôn giáo của các giáo dân, tu sĩ và linh mục Công Giáo mà ông gọi là “các Thánh Tử Đạo”.

 

 Kỳ 1

 Kiều Duy Vĩnh

 Tôi sở dĩ sống đến hôm nay là v́ tôi không phải là người Thiên Chúa Giáo. Nếu tôi mà đeo Thánh Giá ở ngực và biết câu Kinh th́ tôi phải chết đă lâu rồi, từ những năm 60 của thế kỷ này, khi c̣n đi tù đày ở Cổng Trời kia.

 

 

Ngày ấy tuy qua mà như c̣n đấy...

(Chí Thiện)

Chúng tôi được tập trung ở Hỏa Ḷ Hà Nội từ khắp mọi miền đất Bắc, từ vĩ tuyến 17 trở ra: Vĩnh Linh, Quảng B́nh, Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa, Mỏ Chén, Bất Bạt, Sơn La, Yên Bái, Lao Kay.

Tay xích c̣ng số 8, hai người một.

Hàng đầu: Cha Vinh (địa phận Hà Nội) người bị kết án có 18 tháng tù thôi thế mà hóa ra án tử h́nh. Cha Quế, địa phận Xă Đoài, Nghệ An. Thứ đến là Nguyễn Hữu Đang, người cầm đầu Nhân Văn Giai Phẩm. Tu sĩ Đỗ Bá Lung, tu sĩ xứ Ngọc Đồng Hưng Yên (nay là Hải Hưng), khét tiếng chống Cộng Sản (1). Tiếp sau đó là một lũ tù dây, đầu trần trán khỉ, hôi hám rách rưới, chống bướng, cứng đầu cứng cổ không chịu sự cải tạo của đảng và chính phủ, bọn “dám bẻ que chống trời...

Chúng tôi lên xe đi. Súng ống bao quanh. Đi đâu?

Không ai ai biết cả. Cả những người cầm súng, cũng không biết. Có lẽ chỉ có một người biết. Người đó xách cặp đen đựng danh sách tù nhân, mặt mũi tử tế, ăn mặc dân sự chỉnh tề, đi trên chiếc commăng ca dẫn đường.

Chỉ biết là chúng tôi đi lên hướng Bắc. Ngày đó đường sá đầy ổ gà ổ voi, xe đi chậm. Măi trưa chúng tôi mới tới Vĩnh Yên. Nghỉ lại ăn cơm trưa.

Tôi ngồi gần Nguyễn Hữu Đang, thấy người xách cặp đen đi qua để “kiểm tù” nói năng lễ độ tử tế, nhẹ nhàng.

“Anh Đang, anh có khỏe không?”

“Vâng, tôi khỏe”.

Hai người nh́n nhau thông cảm:

“Anh có yêu cầu điều ǵ không?”

“Không. Cám ơn.”

Người đó lặng lẽ đi tiếp.

Chúng tôi lại tiếp tục đi lên phía Bắc. Đến Đoan Hùng. Lúc đó chưa có cầu. Chúng tôi phải xuống xe chờ phà. Để tránh sự chú ư: Họ lùa chúng tôi vào sâu trong ngơ cạnh đường, ở đó có một trường học. Có lẽ cấp hai. Các em học sinh và các thầy cô giáo ṭ ṃ ra xem lũ tù đày. Họ chỉ trỏ x́ xào, hỏi han.

Nguyễn Hữu Đang hỏi:

“Các cháu có biết nhân vật lịch sử Cao Bá Quát không?”

Qua phà chúng tôi đến Tuyên Quang ngủ lại trại giam Tuyên Quang. Lệnh: Không được cởi xích tay. Qua một đêm không thể nào mà ngủ được. Thằng muốn đi ỉa đi đái, phải đánh thức thằng tù đang ngủ dậy.

5 giờ dậy đi tiếp.

Kiểm số tù lần cuối vẫn là ông xách cái cặp đen tử tế. Ông ta tỏ vẻ rất biệt đăi đối với anh Đang, làm tôi nghĩ đến chuyện “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân trong “Vang Bóng Một Thời”.

Đến Hà Giang, sau khi ăn cơm trưa, chúng tôi đi tiếp vào một con đường mới mở, hẹp và cheo leo. Mọi người nh́n nhau:

“Đi mô?”

Mấy ông Nghệ Tĩnh hỏi nhau.

“Có lẽ sang Tàu.”

Anh Đang bảo: “Lên Cổng Trời Cắn Tỷ.”

Xe đi chậm v́ đường quá xấu. Thế rồi cũng qua được hết, qua đèo Quyết Tiến như là đi máy bay, qua rừng, qua suối, qua mây, và rồi màn đêm buông xuống, chúng tôi đi trong đêm. Tôi vốn là một sĩ quan rất giỏi về Topo, cố định hướng xem ḿnh đi về đâu, hướng nào và đă đi bao xa, nhưng lúc đó cũng chịu. Độ 2 giờ sáng đến một địa điểm đèn đuốc sáng choang.

Lệnh xuống xe.

Chúng tôi bị lùa vào một khu rừng, và vào một cái nhà có tường dầy 0.80 mét bằng đất nện, cửa lim, trong nền nhà mọc đầy cây nghệ, lá xách om mượt mà. Cửa khóa lại. Không có đèn đóm ǵ. Tay hai người vẫn bị xích lại với nhau. Mỗi nhà nhận độ 20 người. Sờ soạng sắp xếp và ngủ tiếp.

Sáng hôm sau, cửa mở, đem toàn bộ đồ dùng ra sân. Khám xét. Lục lọi. Tất cả cái ǵ bằng kim loại, thánh giá, tràng hạt, kể cả cái th́a nhôm cũng bị tịch thu lấy đi.

Xong, đọc tên phân loại.

Khu O. Khu H. Khu A. Khu B. Khu C. Khi đi và lúc đọc tên tôi nhẩm: có 72 người. Phần lớn là già, đứng tuổi và 99 phần trăm là Thiên Chúa Giáo.

Cha Vinh, cha Quế được gọi đi trước, đi về khu O. Nguyễn Hữu Đang vào khu C. Tôi và tu sĩ Đỗ Bá Lung vào khu A. Khu A có hai nhà. Nhà tôi ở có: - Đinh Hiền Lương, tu sĩ ḍng tu ép xác Châu Sơn, Ninh B́nh, Đức cha Lê Hữu Từ trước khi làm Giám mục Phát Diệm đă tu ở đó. - Nguyễn Trung Chính, tức Nhẩm, tu sĩ xứ Trung Đồng, Thái B́nh. Nguyễn Văn Khánh Sơn, giáo dân đeo kính cận người Nghệ Tĩnh. - Cố Hoàng: giáo dân Đức Thọ, Hà Tĩnh, có hai người sinh đôi là Song, Toàn để phân biệt với - Tu sĩ Hoàng cũng Nghệ An. - Lưu Nam phụ trách thanh niên Công Giáo địa phận Xă Đoài. - Tu sĩ B́nh, địa phận Thái B́nh. - Tu sĩ Đỗ Bá Lung xứ Ngọc Đồng, Hưng Yên. - Trần Văn Liệu, giáo dân làm nghề đồ tể ở Cầu Giát, Quỳnh Lưu, v.v.

Nhà rất rộng, có 2 sạp nằm đối đầu nhau. Chúng tôi là tù chính trị nên đều hết sức tử tế nhường nhịn nhau, ai nằm đâu th́ nằm không hề tranh giành căi cọ.

Xếp đồ đạc xong, đă đến giờ làm việc thiêng liêng, ai nấy đều cầu kinh và làm dấu thánh giá.

Riêng tôi, có mỗi một ḿnh tôi, không biết cầu, không thuộc kinh bổn ǵ ráo trọi nên tôi bèn nghĩ tới cái tṛ Yoga mà tôi đă đọc ở đâu đó. Những năm của thập kỷ 60 người ta ít biết và ít nói về cái tṛ đó. Tôi ngồi thở và sau đó Trần Văn Liệu hỏi tôi “Được mấy cân hơi rồi.”

Ngày đầu tiên ở Cổng Trời Cắn Tỷ chấm hết ở đó.

Sang ngày thứ hai, mọi người dậy sớm. Cứ ngồi mà nh́n nhau. Không có nước để đánh răng rửa mặt. Tám giờ, chín giờ rồi mười giờ. Vẫn im ắng như không. Các đấng bậc tu sĩ lại cầu kinh. Tôi lại luyện yoga.

Hai cái thùng đựng phân và nước tiểu bằng gỗ đều đầy cả. Nước đái tràn cả ra ngoài.

Măi đến 11 giờ, có tiếng gọi: “Lấy cơm.”

Có hai tên tù h́nh sự ở trại ngoài khênh cơm đến để ở cửa rồi chạy biến. Cấm được nh́n, được hỏi, được tiếp xúc trao đổi cái ǵ. Bọn kiên giam, biệt giam là cực kỳ nguy hiểm, chúng giết người không gớm tay, bọn ăn gan uống máu đồng bào.

Nhưng thật sự, nh́n kỹ th́: - Đinh Hiền Lương ḍng tu ép xác Châu Sơn xanh lướt như một cái bóng. Các tu sĩ đều vậy cả. - Cố Hoàng th́ chỉ có hát là cao giọng thôi, chứ đi đứng th́ lẩy bẩy. - Khánh Sơn th́ mù dở. Nếu ăn gan uống máu đồng bào được th́ may ra có tôi và Trần Văn Liệu. Nhưng sau những năm tháng tù đầy ở dưới đồng bằng, bị đói, bị khát bị quần cho đến tơi người bản thân tôi, nắm tay không chặt th́ c̣n làm ǵ được nữa. Đă rất nhiều lần tôi thử sức, nắm thật chặt để nắm tay ḿnh trở thành quả đấm, nhưng không bao giờ thành, bàn tay tôi không bao giờ có thể nắm chặt lại để thành nắm đấm cả. Thực trạng là như vậy đấy. Nhưng chắc là có lệnh nghiêm mật, giám thị, quản giáo và lính coi tù họ đối xử với chúng tôi cực kỳ tàn bạo và hà khắc.

Điều cuối cùng họ phải thi hành nghiêm chỉnh là làm cách nào giết hết được chúng tôi. Và họ đă hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đó: 72 người c̣n lại độ chừng 11 người. Tôi dám nói con số đó chính xác đến 99%.

Năm đó là năm 1961. Chúng giết anh em ta ở khu O, khu H, và khu A. Những ḷ thiêu xác (khổng lồ hay nhỏ nhoi?) không có khói và không cần chất đốt.

Chúng giết anh em ta

Bằng chiều cao của núi

Bằng chiều sâu của đất

Bằng thông cáo của nha khí tượng.

Cứ âm O độ là gọi đi xà lim. Xà lim là một cái quan tài bằng đất dầy một mét, cùm răng cá sấu cắn chân không bao giờ được mở, và bỏ đói cho đến chết. Tiếng gọi của thần chết đột ngột, bất thần, không lư do và khỏi cần giải thích. Lưu Nam, chuẩn bị đi. Khánh Sơn chuẩn bị đi. Đinh Hiền Lương, chuẩn bị đi. Cứ thế lần lượt ra đi và không ai trở lại.

Những năm tháng ấy, tôi ngửi thấy cái chết gần gũi quá. Lần đầu tiên trong đời, qua những năm chinh chiến, qua những cuộc hành quân chiến dịch, tôi đi trong cảnh máu chảy đầu rơi, chân tay vung văi, khói lửa mù trời, tiếng đại bác bắn dồn dập, mặt đất rung chuyển, máy bay rít sát trên đầu, tiếng xích sắt của xe tăng nghiến sàn sạt sát sườn, cả khi người vệ sĩ của tôi chạy cạnh tôi trong chiến đấu, bị nguyên một băng tiểu liên quét trúng, ngă trong cánh tay tôi, người đầy máu thều thào: “Em chết, trung úy ạ...” cả những lúc ấy tôi vẫn chưa cảm thấy mùi Thần Chết.

Nhưng ở đây, Cổng Trời Cắn Tỷ, những năm 60, tôi ngửi thấy và cảm thấy nó rất gần. Lặng lẽ, lặng lẽ nó tiến đến. Không thể nào cản nổi. Một cặp lỗ hổng vô cảm của đôi mắt, một tiếng gọi tên, vài cái lưỡi lê chĩa vào... Thế là ra đi, thế là chết.

Một người ra khỏi cửa, những người c̣n lại nh́n nhau chờ đợi. Không ai nói với ai điều ǵ. Chúng tôi ăn cơm hai bữa một ngày, chín giờ sáng và ba giờ chiều. Ăn xong ngồi nh́n nhau. Chờ.

Các đấng bậc tu sĩ rất ít nói, nhất là Đinh Hiền Lương, ḍng tu ép xác Châu Sơn. Trông Đinh Hiền Lương tôi nhớ đến Đức Giám Mục Lê Hữu Từ địa phận Phát Diệm: Khô, gầy, mặt đầy nếp nhăn khắc khổ. Tuy c̣n trẻ hơn nhưng tu sĩ Lương cũng gần giống vậy, chỉ có nước da trắng xanh hơn v́ ở xà lim suốt. Tuy ông mặc áo tù, nhưng trước mắt tôi vẫn cứ hiện lên h́nh ảnh của Giám Mục Lê Hữu Từ, người ngồi đó lặng lẽ ôn tồn nhẹ nhàng để đi đến cái chết.

Ở với ông lâu, nhưng tôi chưa được nghe một câu chuyện nào do ông kể, v́ ông chỉ nói mỗi ngày có vài tiếng thật cần thiết để tồn tại. C̣n th́ im lặng suốt. Cái im ắng của ông, tỏa ra chung quanh, đè xuống mọi người.

 

LTS: Ông Kiều Duy Vĩnh là một trong những chứng nhân của sự độc ác cùng cực của cai tù CSVN tại nhà tù “Cổng Trời” tỉnh Hà Giang. Ông mất ở Việt Nam ngày 7 tháng 7, 2012 vừa qua, thọ 81 tuổi. Ông từng tốt nghiệp Vơ Bị cùng khóa với ông Nguyễn Cao Kỳ, là đại úy tiểu đoàn trưởng Nhảy Dù. Năm 1954 ông đă không theo đơn vị di cư vào Nam v́ lư do gia đ́nh. Ông đă bị bỏ tù hai lần 17 năm trong đó có nhiều năm ông bị giam ở “Cổng Trời,” nơi ông và một người nữa (ông Nguyễn Hữu Đang trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm) sống sót trong số 72 người tù ở cùng một phân trại. Ông kể lại những ngày tù ở “Cổng Trời” qua các hồi kư từng phổ biến trên tạp chí Thế Kỷ 21 cách đây hơn chục năm. Trong các hồi kư này, ông kể về sự kiên cường giữ vững niềm tin tôn giáo của các giáo dân, tu sĩ và linh mục Công Giáo mà ông gọi là “các Thánh Tử Đạo”.

 

Kỳ 2

 

Trong cái nhà mồ đó, có tôi và Trần Văn Liệu (Cầu Giát Nghệ An) vốn ăn to nói lớn thế mà lúc ông làm việc thiêng liêng, tôi, nhất là Liệu đến phải khép nép, và im lặng. Đúng là một cái nhà mồ. Những người ở trong cái nhà mồ ấy chết gần hết, chỉ c̣n lại tôi, và h́nh như Liệu nữa.

Nhà tù của chúng tôi không có tên, hoặc là có th́ đây: 65HE Bộ Công An, hay công trường 75A Hà Nội. Những người Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng B́nh đi thăm, hỏi công an địa phương, họ cho cái địa chỉ đó. Có người ngây thơ nghĩ rằng, người thân của ḿnh được ra làm công trường ở Hà Nội. Họ ùa đi t́m và không bao giờ thấy cả.

Vậy nó ở đâu?

Ở thị xă Hà Giang đi lên, qua đèo Quyết Tiến đến Cổng Trời là gần biên giới Việt Trung chỗ có thể chưa được phân định rơ ràng, có thể là đất Tàu có thể là đất ta, một thung lũng không có tên, không có dân, chỉ có tù và người coi tù. Mặt đất đầy nghệ. Rừng nghệ. Tù lấy lá nghệ mọc trong gầm giường ăn thay rau chống đói. Không biết ḿnh ở đâu? Không định được tọa độ trên bản đồ. Hàng rào cao kín mít, con chim không bay qua, con chuột to chui không lọt.

Sang đến năm 1963, th́ tù phá đá ở ngay trong sân trại xây tường bao quanh. Tường cao như tường Hỏa Ḷ Hà Nội. Có dây kẽm gai, có điện truyền vào dây kẽm gai. Nghĩa là cực kỳ kiên cố. Không ai có thể trốn thoát được. Không một ai cả. Chế độ kiểm soát tù nhân cực kỳ nghiêm mật. Không một mảnh giấy lọt vào. Không một cái ǵ có thể gạch hoặc viết được ra chữ tồn tại trong tù. Không báo chí, thư từ. Tù nhân cấm không được viết thư và nhận thư. Nói khó ai tin: Cuộc chiến tranh với Mỹ xảy ra năm 1964 ở miền Bắc không một ai trong nhà tù biết cả. Chỉ thấy có một hiện tượng là những bức tường rào bao quanh được ngụy trang và các mái nhà được che phủ. Thế thôi. Không ai đoán ra được cái ǵ. Măi cho đến năm 1967, tôi được đưa về trại Phú Sơn Thái Nguyên. Trên đường đi từ Hà Giang về tôi gặp quân Tàu nhập Việt trùng trùng điệp điệp kéo đi. Lúc ấy tôi mới biết là có chiến tranh.

Cực giỏi. Những người CS cực giỏi trong quản lư nhà tù, cũng như trong cái tṛ bưng tai, bịt mắt quần chúng nhân dân.

Một bức màn sắt đúng nghĩa.

Đây là nhà tù, chứ không phải là nhà thờ. Vậy cấm cầu kinh, cấm lần tràng hạt, cấm làm dấu thánh. Cấm được ngồi trong đêm; v́ không ai nằm mà cầu kinh cả.

Vậy nên cửa sổ nhà tù lúc nào cũng phải mở, mây bay vào qua cửa sổ mang cái lạnh chết người vào theo.

Cái màn cho tù, là một cái quan tài bằng vải. Quy định màn chỉ được cao 40cm để nếu tù có ngồi ban đêm cầu kinh th́ nhô cái đầu lên, lính canh đi tuần có thể kiểm soát được, quản giáo đi tuần có thể nh́n thấy. Vậy cái màn dài 1m8 và cao 40cm, th́ đúng là một cái quan tài bằng vải sô liệm người sống rồi c̣n ǵ.

Cứ từng bước một, ban giám thị trại thi hành chính sách diệt tôn giáo, cụ thể là diệt Thiên Chúa Giáo. V́ ở Cổng Trời tôi chưa hề gặp một nhà sư hoặc một Phật tử nào. Chỉ gặp các linh mục và các tu sĩ Thiên Chúa Giáo mà thôi. Có lẽ ở miền Bắc Việt Nam thời ấy không c̣n đạo Phật đúng nghĩa của nó. Trong cái nhà mồ đó, có một tôi là người là không theo đạo Thiên Chúa, nhưng tôi không phải là Phật tử. Tôi không thờ Phật, không tin vào Niết Bàn và Thích Ca Mâu Ni tuy tôi rất thích câu kệ:

Nhạn liệng từng không

Bóng in mặt nước

Nhạn không có ḷng ghi dấu

Nước không có ư lưu h́nh

Với tôi, tất cả sư mô ở Bắc kỳ đều là sư hổ mang, học trường Đại Học Tôn Giáo, tu theo nghĩa vụ, như nghĩa vụ quân sự, hết ba năm ra khỏi chùa về nhà lấy vợ đẻ con. Thế cả.

Và tôi cũng nghĩ sai về các tu sĩ Thiên Chúa Giáo như thế. Nhưng tôi đă thật sự gặp các vị thánh tử v́ đạo. Các vị thánh tử v́ đạo bằng xương bằng thịt sống cạnh tôi nhiều năm, mà tôi vẫn coi thường, nhưng cái chết của họ đă làm tôi phải nghĩ khác đi. Tôi vốn xa lạ với các tên Phêrô, Phaolồ và Mađờlen. Nhưng cái tên Đỗ Bá Lung th́ cho đến hết đời tôi không thể nào quên được. Tu sĩ Đỗ Bá Lung người lù khù nhưng tử tế, hiền lành, củ ḿ như một nông dân chân chính của đồng bằng Bắc bộ. Chả là ông tu ở xứ đạo Ngọc Đồng, Hưng Yên mà. Ông chưa được phong linh mục cũng như ông Diệu ở Thụy Phương Hà Nội, ông Chính (Nhẩm) ở Trung Đông Thái B́nh. Ông chả kể về ông mấy khi.

Trong cái nhà mồ đó chỉ có thầy Chính là có kể cho tôi nghe đôi điều về quê hương Thái Thụy của người, và về xứ đạo ven biển Trung Đông mà thôi. Thêm nữa có nhà trí thức xứ Nghệ Khánh Sơn với đôi kính cận dầy cộm, ra cái điều học nhiều biết rộng, thiên kinh vạn quyển, cổ kim, Âu Á, hay nói với tôi về Phúc Âm, về Thánh Thomas d'Aquin. Tôi nghe ù ù cạc cạc như vịt nghe sấm. Tôi vốn không có đức tin và vốn coi thường cái học vấn hẹp ḥi của các vị đó thường giới hạn đến hết sân Nhà Thờ, nên tôi chỉ nghe chơi cho qua ngày đoạn tháng, cho qua cái thời gian dài dằng dặc khốn nạn ở trong cái nhà mồ mà thôi.

LTS: Ông Kiều Duy Vĩnh là một trong những chứng nhân của sự độc ác cùng cực của cai tù CSVN tại nhà tù “Cổng Trời” tỉnh Hà Giang. Ông mất ở Việt Nam ngày 7 tháng 7, 2012 vừa qua, thọ 81 tuổi. Ông từng tốt nghiệp Vơ Bị cùng khóa với ông Nguyễn Cao Kỳ, là đại úy tiểu đoàn trưởng Nhảy Dù. Năm 1954 ông đă không theo đơn vị di cư vào Nam v́ lư do gia đ́nh. Ông đă bị bỏ tù hai lần 17 năm trong đó có nhiều năm ông bị giam ở “Cổng Trời,” nơi ông và một người nữa (ông Nguyễn Hữu Đang trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm) sống sót trong số 72 người tù ở cùng một phân trại. Ông kể lại những ngày tù ở “Cổng Trời” qua các hồi kư từng phổ biến trên tạp chí Thế Kỷ 21 cách đây hơn chục năm. Trong các hồi kư này, ông kể về sự kiên cường giữ vững niềm tin tôn giáo của các giáo dân, tu sĩ và linh mục Công Giáo mà ông gọi là “các Thánh Tử Đạo”.

 Kỳ 3

 Tôi ít lưu tâm đến vấn đề tôn giáo. Cũng như tu sĩ Đinh Hiền Lương, tu sĩ Lung cứ lững thững đi lại, chậm răi, lặng lẽ tới lui, ông có nhiều lời hơn bậc tu ép xác ḍng Châu Sơn một chút, nghĩa là đôi lúc ông có nói với tôi về Phố Nối và con đường 39 về xứ Ngọc Đồng nơi ông tu.

Vùng của ông, tôi có hành quân qua nên cũng có đôi chút kỷ niệm, vả lại trời cũng phú cho tôi một trí nhớ tốt, cho đến tận bây giờ, sau gần 50 năm trôi qua, mà tôi vẫn nhớ rơ tên; tên chữ cũng như tên nôm của các làng vùng đó như: Duyên Trang Duyên tục là Tuộc, Lác; Hải An là Hối; Phù Lưu là Đọ (ngă ba Đọ); Đống Năm là Đông Các; Thượng Tầm là T́m; Cổ Hội là Gọ (cầu Gọ); Cầu Sắt là Nha Xuyên... Cho nên tôi và ông thỉnh thoảng có ôn lại các địa danh Lực Điền, Trương Xá, Kim Động, dốc Lă, rồi đến nhăn Hưng Yên, thang cuốn Phố Hiến, dưa hấu Đ́nh Cao, Phù Cừ và cả về việc chỉ huy sở của khu chiến chiếm Chủng viện Hưng Yên.

Về ông tôi biết hời hợt thế thôi. Nhưng có một điều ông như thế mà bị đầy lên đây vào khu 2A này th́ chắc ở trong c̣n tiềm ẩn một điều ǵ sâu sắc lắm, cao đạo lắm, quyết liệt lắm mà tôi chưa hiểu nổi đấy thôi.

Như trên tôi đă nói: Những người ở trong nhà mồ cứ lần lượt bị gọi đi. Luôn luôn lặng lẽ và đột ngột. Nhưng thời gian xảy ra câu chuyện này hơi có sự thay đổi:

Người giám thị cũ của trại giam tên là Nhân chuyển về làm cục phó Cục Quản Lư Trại Giam v́ thành tích xuất sắc của ḿnh, thay vào đó là giám thị Nguyễn Quang Sáng, trẻ hơn, người Nam Hà. Nói qua một chút về giám thị Nhân. Trước khi lên đây, giám thị Nhân coi trại Yên Bái, trại này cũng vào hạn khá đặc biệt, khi chưa có Cổng Trời. Năm 1954, trại này nhốt tướng De Castries người chỉ huy Điện Biên Phủ. Sau đó là những địa chủ cường hào đại gian đại ác có nợ máu, những tên phản động nguy hiểm từ trong Nam ra, từ khu Tư lên, tập trung ở đó, rồi sau đó chọn lọc đem lên Cổng Trời.

Giám thị Nhân người Nghệ An, trông gầy (tôi có được gọi lên gặp hai lần) và khô, mặt tai tái lạnh lùng, đúng típ người coi trại giam, rét cắt ruột vẫn đi đôi dép lốp cao su, mà ngón chân út của bàn chân cáu ghét nứt nẻ bao giờ cũng tḥ ra ngoài quai kẹp lấy nó để đi cho chắc. Rất đúng tác phong quần chúng xuất thân từ nông dân lao động:

Những bàn chân từ than bụi lầy bùn.

Đă bước dưới mặt trời cách mạng...

Những bàn chân đă vùng dậy đập đầu

Lũ chúa đất xuống bùn đen vạn kiếp

(Tố Hữu)

Đúng thế, những bàn chân ấy đă giẫm lên xác không biết bao nhiêu người ở các trại giam khác và bây giờ đây lại tiếp tục làm nhiệm vụ của nó: Giẫm lên xác những kẻ ở nhà mồ Cổng Trời này.

Có điều giám thị Nhân giẫm lên xác một cách nhẹ nhàng và im ắng. C̣n giám thị mới Nguyễn Quang Sáng th́ giẫm lên xác ầm ĩ hơn, trang trọng hơn, bài bản hơn. Âu cũng là cách làm khác nhau của họ. Đổi mới mà.

Hôm ấy, rét làm đông nước. Ở mái nhà nước đóng thành băng. Sáng ra, nh́n qua cửa sổ ra sân trại, khói bốc nghi ngút trên mặt đất. Như mọi ngày, chúng tôi tiến hành mọi việc như thường lệ. Với chúng tôi: Stalin chết, Malenkốp chết, John Kennedy bị bắn, Ngô Đ́nh Diệm chết, Kroutchov bị hạ bệ, chả có ǵ quan trọng cả.

Giám thị Nhân đă từng tuyên bố vào mặt chúng tôi:

“Cái sống chết của các anh ở trong tay chúng tôi. Đừng có mơ tưởng hăo huyền ǵ. Cho dù có động trời, động đất xảy ra, th́ trước khi chuyện đó đến với các anh, nó phải tới cái trại đặc biệt này. Nghe cho rơ mà nhớ lấy. Trước khi mọi điều viễn vông, viễn tưởng mà các anh mong đợi xảy ra, th́ các anh đă không c̣n ở cơi đời này nữa, các anh đă là những cái xác chết rồi.”

Chúng tôi nghe và cũng hiểu đúng như vậy. Cho nên, động đất, chiến tranh ai chết. Mặc. Chúng tôi cứ lặng lẽ, lặng lẽ tồn tại. Chỉ tồn tại thôi chứ không phải là sống. Làm một sinh vật trên trái đất này ai chả tham sống sợ chết. Tôi phải nói lại ngay, ấy là nói với riêng tôi thôi, chứ c̣n các vị thánh tử v́ đạo th́ điều ấy h́nh như không đúng đâu.

Cố Hoàng đôi lúc cao giọng:

Ở nơi lưu đầy

Dù gươm chém hay đầu rơi

Ḷng vàng đá không hề phai

Dù gươm chém hay đầu rơi...

(Cha Vinh)

Các đấng bậc ấy chả sợ, chả phàn nàn điều ǵ. Chả bù với tôi, luôn miệng kêu: “Chao ôi đói quá! Chao ôi rét quá! Chao ôi khổ quá! Chao ôi...” Được cái tôi chỉ kêu lên thế thôi, cho nó thoát ra ngoài một chút thế rồi thôi, chả mong ǵ uất khí làm cho đầu trắng xóa như thái tử Đan ở nước Tàu xưa kia, v́ tôi cũng đă biết:

Gémir, crier, pleuer

est également lache

Và tôi nghiến răng lại để không bao giờ làm kẻ hèn nhát. Dù không được mười phần như các đấng bậc quanh tôi, tôi cũng cố đạt mức trung b́nh.

LTS - Ông Kiều Duy Vĩnh là một trong những chứng nhân của sự độc ác cùng cực của cai tù CSVN tại nhà tù “Cổng Trời” tỉnh Hà Giang. Ông mất ở Việt Nam ngày 7/7/2012 vừa qua, thọ 81 tuổi. Ông từng tốt nghiệp Vơ Bị cùng khóa với ông Nguyễn Cao Kỳ, là đại úy tiểu đoàn trưởng Nhảy Dù. Năm 1954 ông đă không theo đơn vị di cư vào Nam v́ lư do gia đ́nh. Ông đă bị bỏ tù hai lần 17 năm trong đó có nhiều năm ông bị giam ở “Cổng Trời,” nơi ông và một người nữa (ông Nguyễn Hữu Đang trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm) sống sót trong số 72 người tù ở cùng một phân trại. Ông kể lại những ngày tù ở “Cổng Trời” qua các hồi kư từng phổ biến trên tạp chí Thế Kỷ 21 cách đây hơn chục năm. Trong các hồi kư này, ông kể về sự kiên cường giữ vững niềm tin tôn giáo của các giáo dân, tu sĩ và linh mục công giáo mà ông gọi là “các Thánh Tử Đạo.”

 Kỳ 4

 Buổi sáng hôm ấy, chín giờ, mọi người chúng tôi ăn cơm xong, ngồi chơi, nh́n nhau, th́ cửa mở. Một tiểu đội lính lưỡi lê tuốt trần súng ống chỉnh tề. Đủ mặt bá quan của Khu A2. Quản giáo trực, giáo dục, phó giám thị phụ trách khu.

Tất cả đều đội mũ b́nh thiên, lệ phục chỉnh chu. Cuối cùng, giám thị mới xuất hiện. C̣n trẻ, nhanh nhẹn mặt mũi sáng sủa, ăn nói lưu loát, sang sảng, dứt khoát, có âm sắc Nam Hà (có điều cho măi đến tận bây giờ tôi vẫn chưa hiểu nỗi, là tại sao trong chuỗi ngôn từ chính quy, nhân danh pháp luật mà giám thị mới lại xen vào đó một số từ mà người ta chỉ dùng để nói láo với nhau mà thôi).

Bài nói như sau:

“Hôm nay, tôi Nguyễn Quang Sáng. Chánh giám thị mới của trại, thông báo để các anh rơ.

Trại Cổng Trời, Công Trường 25A Hà Nội này là một trại đặc biệt. Trại đă sàng lọc cẩn thận lũ các anh, bọn đầu trâu trán khỉ, bọn phản động chống phá cách mạng một cách điên cuồng, ở các trại dưới các anh không chịu cải tạo, lại c̣n ra sức truyền đạo và kích động người khác. Chúng tôi đây, chúng tôi cũng được chọn lọc, những phần tử ưu tú nhất, dầy dạn nhất, kinh nghiệm nhất để lên đây trừng trị, trấn áp lũ các anh. Tôi thay mặt cho ban giám thị báo cho các anh biết:

Ban giám thị trại Cổng Trời trực tiếp được Bộ Chính Trị và Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội trao cho quyền hành đặc biệt: Trừng trị thẳng tay những kẻ nào c̣n dám chống lại đảng và nhà nước. Cụ thể, tôi nhấn mạnh, là tôi sẽ cho đi ngủ với giun (nguyên văn) những kẻ nào không chịu cải tạo và cố t́nh chống đối lại.

Hôm nay tôi xuống đây để hỏi: Anh Đỗ Bá Lung.”

Im lặng.

“Tôi hỏi: anh Đỗ Bá Lung có nghe thấy không?”

Có tiếng đáp nhỏ nhẹ: “Có tôi.”

“Đứng dậy. Tôi bảo anh đứng dậy.”

V́ buồng giam chật, không có chỗ cho chúng tôi đứng, nên chúng tôi đều ngồi xổm hoặc xếp chân ṿng tṛn trên giường chỗ gần cửa ra vào. Chỉ có giám thị, quản giáo là có chỗ đứng ngay cửa mà thôi. Tu sĩ Đỗ Bá Lung từ từ đứng dậy.

Trời rét âm bốn độ, nên trong lúc ngồi nghe chúng tôi ai nấy đều quàng chăn cho khỏi rét.

“Bỏ chăn ra.”

Tu sĩ Lung tuột chăn khỏi vai cho rơi xuống chân ḿnh.

“Anh Đỗ Bá Lung, hôm nay, sau khi đọc hồ sơ của anh, cùng các nhận xét của các ban giám thị các trại dưới, và được các ông quản giáo báo cáo lại, thấy rằng: Anh là một tên phản cách mạng cực kỳ nguy hiểm, đă đội lốt thầy tu mê hoặc các giáo dân ở các xứ đạo, kích động họ để họ chống lại đảng và chính phủ.

Đến khi bị bắt vào tù, ở các trại dưới cũng như ở đây, anh vô cùng ngoan cố khăng khăng không chịu cải tạo, từ chối mọi sự giáo dục của ban giám thị và các ông quản giáo. Tôi nói lại một lần nữa cho anh Đỗ Bá Lung và các anh nghe cho rơ. Kẻ nào c̣n dám chống lại tôi sẽ cho đi ngủ với giun.

Anh Lung, trước đây lúc nào anh cũng vỗ ngực tuyên bố trước giáo dân và các ban giám thị ở các trại dưới là anh thề không đội trời chung với Cộng sản. [Chính xác th́ Tu sĩ Lung nói: Tôi không bao giờ có thể sống chung với Cộng Sản vô thần được]. Bây giờ trước mặt tôi anh có c̣n dám trắng trợn thách thức như thế nữa không?”

Im lặng trên toàn bộ nhà mồ. Tôi ngồi im một xó, khép kín cái chăn, sụp cái mũ bịt tai lại, tránh mọi cặp mắt.

Giám thị Sáng cao giọng hất hàm:

“Tôi hỏi anh Lung, anh trả lời cho tôi biết. Thế nào?”

Những phút giây này Thần Chết đă có mặt. Người ta thường viết như thế này về những người Cộng Sản trước khi chết: Vào những phút giây này người Cộng Sản kiên cường bao giờ cũng đứng dậy hô to: “Đảng Cộng Sản muôn năm. Hồ Chủ Tịch muôn năm.” Phút giây thiêng anh đứng dậy ba lần và hô ba lần hô dơng dạc như thế.

Tôi chờ. Tôi chờ. Và thấy tu sĩ Đỗ Bá Lung ngẩng đầu:

“Tôi có nói như thế và bây giờ tôi vẫn nói như thế.”

Tiếng quát bật ra giận dữ:

“Lôi nó đi.”

Không để ai phải lôi kéo cả.

Tu sĩ Lung từ từ bước ra khỏi giường. Đi ra cửa.

Hàng lưỡi lê giăn ra. Quản giáo, giám thị giăn ra để cho tu sĩ đi. Đến gần cửa tu sĩ quay lại, móc túi lấy gói thuốc lào, mấy đồng bạc “âm phủ” trao lại cho người ngồi gần. V́ tôi nằm cạnh tu sĩ, nên tu sĩ quay lại phía tôi: “Anh Vĩnh, tôi c̣n mấy viên thuốc cảm, và cái gối để ở đầu giường, lấy mà dùng.”

Và hướng vào tất cả mọi người trong nhà mồ, tu sĩ nói nhỏ nhẹ:

“Thôi chào các bác, các anh ở lại. Tôi đi.”

Và tu sĩ đi. Cửa sập lại.

Chúng tôi im lặng ngồi nh́n nhau không ai nói với ai một lời. Thần Chết đến và đă đi. Lần này ầm ĩ hơn, có nghi lệ hơn, có bài bản hơn những lần trước.

*

Gần ba tháng sau, Nguyễn Hữu Đang, “tên cầm đầu bọn Nhân Văn Giai Phẩm” đến gần cửa sổ khu tôi ở. Anh là người độc nhất ở đây được đưa cơm vào xà lim, được đi lại tự do trong bốn bức tường, anh là người được ăn no, đủ muối mắm, thậm chí được mua cả thịt trâu và được hái hoa rừng cài vào cửa sổ. Có lần anh cầm một bó hoa nghệ và bảo tôi: Này Vĩnh, cậu ngửi mà xem có đúng mùi nước hoa Bain de Champagne không.

Tôi vốn không ưa cái mùi ung ủng của thứ nước hoa thượng hảo hạng đó. Nhưng anh Nguyễn Hữu Đang th́ anh rất thích cái mùi nước hoa Bain de Champagne đó. Lại có lần qua cửa sổ vào buổi sáng sớm, anh dúi cho tôi một cái bánh sắn to có nhân thịt trâu.

Chao ôi là chao ôi.

Thỉnh thoảng lúc vắng quản giáo và lính canh anh đứng cạnh cửa sổ nói với tôi dăm ba câu chuyện tào lao. Anh được thả lỏng, được ưu đăi có lẽ do cái người cắp cái cặp đen hôm đưa đoàn tù lên. Anh bảo với tôi rằng ông ta tên là Vệ, h́nh như làm cục phó Cục Quản Lư trại giam. Hồi xưa trước năm 1945, khi anh làm tổng thư kư Hội Truyền Bá Quốc Ngữ với cụ Nguyễn Văn Tố, anh có làm ơn cho ông ta một điều ǵ đó. Đến giờ ông ta tử tế đáp lệ lại. Chắc là thế.

Anh luôn bảo, anh không có tội ǵ cả. Nếu có - theo anh - th́ đó chỉ là một sự hiểu lầm về thời gian và không gian trong triết học mà thôi. Anh nói ấm ớ lững lờ và khó hiểu như vậy.

Ba tháng sau, lúc đưa cơm xà lim xong anh đáo qua cửa sổ tôi và bảo:

“Này, cái lăo Lung ấy mà. Vẫn chưa chết. Sống dai thế. Không có chăn, không có quần áo ấm để chống rét cơ thể mọc đầy lông cậu ạ. Chỉ c̣n đôi mắt là vẫn sáng vẫn sống thôi.”

 

 

 

 

 LTS - Ông Kiều Duy Vĩnh là một trong những chứng nhân của sự độc ác cùng cực của cai tù CSVN tại nhà tù “Cổng Trời” tỉnh Hà Giang. Ông mất ở Việt Nam ngày 7 tháng 7, 2012 vừa qua, thọ 81 tuổi. Ông từng tốt nghiệp Vơ Bị cùng khóa với ông Nguyễn Cao Kỳ, là đại úy tiểu đoàn trưởng Nhảy Dù. Năm 1954 ông đă không theo đơn vị di cư vào Nam v́ lư do gia đ́nh. Ông đă bị bỏ tù hai lần 17 năm trong đó có nhiều năm ông bị giam ở “Cổng Trời,” nơi ông và một người nữa (ông Nguyễn Hữu Đang trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm) sống sót trong số 72 người tù ở cùng một phân trại. Ông kể lại những ngày tù ở “Cổng Trời” qua các hồi kư từng phổ biến trên tạp chí Thế Kỷ 21 cách đây hơn chục năm. Trong các hồi kư này, ông kể về sự kiên cường giữ vững niềm tin tôn giáo của các giáo dân, tu sĩ và linh mục Công Giáo mà ông gọi là “các Thánh Tử Đạo.”

 Kỳ 5

 Nhưng mà sống măi làm sao cho được nỗi với chế độ hà khắc giết người đó. Tu sĩ Lung phải chết. Người ta đóng các cửa sổ lại để không ai nh́n thấy chiếc chiếu gói xác khênh đi qua.

Mỗi lần chôn, có hai tù h́nh sự ở trại ngoài vào, đem theo một chiếc chiếu, đ̣n khiêng và dây thừng. Thường hay chôn vào buổi chiều tà. Chôn xong họ được bồi dưỡng một cân đường, hai cân gạo nếp. Cha Quế và Cha Vinh chết, th́ đâu như phần chôn c̣n được thêm một cân ḷng trâu.

Thế là với chúng tôi, Tu sĩ Đỗ Bá Lung xứ Ngọc Đông Hưng Yên không bao giờ về nữa. Người đă chết, và coi như mọi chuyện đă hết. Nhưng câu chuyện lại chưa chấm dứt ở đây ở lúc đem Tu sĩ Lung đi chôn.

Ở đoạn trên, chúng ta đă biết là Tu sĩ Đỗ Bá Lung đă vào Hầm Chết ba tháng mà vẫn chưa chết. Chánh giám thị Nguyễn Quang Sáng rất sốt ruột, luôn luôn hỏi anh Nguyễn Hữu Đang, người cầm đầu Nhân Văn Giai Phẩm, người độc nhất được đưa cơm vào xà lim:

“Thế nào, nó chết chưa? Cái thằng Lung ấy.”

“Thưa ông, anh ấy chưa chết.”

Nguyễn Hữu Đang có cái đáng quư là anh không gọi ai ở trong tù bằng thằng cả. Trong khi bọn trật tự viên h́nh sự luôn luôn nói theo giọng quan thầy, ông chủ chúng đều gọi tù nhân bằng thằng này thằng nọ.

Tôi có một anh bạn rất thân tên là Sâm. Khi hỏi cung tôi, cán bộ công an hỏi:

“Anh thấy thằng Sâm nó thế nào?”

“Thưa ông, tôi không quen thằng Sâm nào cả?”

“Anh láo, anh chối hả? Thằng Sâm mà anh không quen th́ anh c̣n quen ai nữa?”

“Thưa ông, nếu ông nói về anh Đỗ Văn Sâm học cùng với tôi ở trường Chu Văn An th́ tôi quen rất thân. Nhưng xin ông nhớ cho là anh ấy chưa bị bắt, ông không nên gọi thằng này thằng nọ như thế.”

Tôi chỉ dám trả lời lại có thế thôi, nhưng c̣n anh bạn Phan Hữu Văn, th́ anh ấy trả lời hay hơn tôi nhiều:

“Thưa ông, tôi tưởng ông nói tới thằng Vĩnh lưu manh, ma cà bông ở cùng trại 13 với tôi th́ thật t́nh tôi không bao giờ biết tới quân ăn cắp ấy cả. Nhưng tôi có quen ông Kiều Duy Vĩnh, học sinh trường Chu Văn An cũ, nguyên đại úy tiểu khu trưởng Ninh Giang. Chúng tôi không dùng những từ thằng này thằng nọ mày tao mi tớ bao giờ. Chỉ có bọn vô học, vô văn hóa, vô giáo dục th́ mới dùng những từ đó mà thôi.”

Tên công an tím mặt lại, đuổi về trại đi cùm.

Lại nói về Tu sĩ Đỗ Bá Lung, hết tháng thứ ba ông chưa chết, nhưng sang đến tháng thứ tư vào dịp gần đến lễ Thiên Chúa Giáng Sinh ở Cổng Trời đôi lúc không độ, nước đóng băng th́ tu sĩ Lung chết.

Nguyễn Hữu Đang vội vă bá cáo với trực trại là Tu sĩ Lung đă chết.

Ngay buổi chiều hôm đó, mọi cửa sổ nhà giam đều bị đóng kín lại, có hai người tù h́nh sự ở trại ngoài đem đ̣n, dây thừng và một chiếc chiếu vào khênh đi chôn. Họ chôn xong, về lĩnh mỗi người một cân đường và một cân gạo nếp. Đâu như những lần chôn cất cha Vinh cha Quế họ được thêm mỗi người một kư ḷng trâu.

Đối với chúng tôi th́ là Tu sĩ Đỗ Bá Lung đă chết, đă đem chôn. Người chết hết chuyện. Thế nhưng trường hợp của Tu sĩ Lung lại không hết chuyện. Thế mới phiền.

Cũng chừng độ ba tháng sau, một ngày nắng vàng rực rỡ, trời ấm áp dễ chịu, người ta thấy, lù lù một tu sĩ Đỗ Bá Lung chống gậy xuất hiện ở trại Cổng Trời.

Thế là náo loạn cả lên. Từ Ban Giám thị trại, đến lính coi tù, đến tù nhân đều tới lui, bàn ra tán vào, ŕ rầm nhớn nhác. Cửa sổ các trại lại đóng như khi ông chết mang đi chôn. Họ đưa ông vào ở tạm một cái buồng con chỗ cán bộ giáo dục “lục vấn” người tù. Chứ chả lẽ lại đưa ông vào Hầm Chết lần nữa!

Hóa ra là hồi ba tháng trước ông chưa chết hẳn, hoặc là ông đă chết mà một phép lạ đă làm ông sống lại. Câu chuyện xảy ra như sau:

Sắp đến chỗ chôn th́ trời đổ mưa to, hai người tù h́nh sự tránh mưa, để ông nằm đó chạy vào trú mưa ở nhà một người Mèo, họ vào đấy uống rượu chờ tạnh mưa. Mưa hồi lâu, và rượu hơi ngon nên trời chập choạng tối họ mới lần xuống, th́ không thấy bó chiếu đâu nữa.

Họ nghĩ có lẽ thú dữ, hoặc chó sói đă tha cái xác ấy đi rồi. Có sao đâu, khỏi phải chôn. Họ về và cũng chả có ai hỏi là họ chôn xong chưa? Mọi lần vẫn thế. Mặc nhiên coi như đă chôn xong.

Hóa ra là khi họ đang uống rượu th́ mưa to hơn lại có sấm chớp nữa làm Tu sĩ Đỗ Bá Lung tỉnh lại, dây buộc th́ lỏng lẻo, ông chui ra khỏi cái chiếu, lấy cái chiếu che mưa lần vào cái chuồng trâu gần đó. Hơi ấm của trâu, của phân trâu làm ông hồi tỉnh lại và sáng hôm sau, chủ nhà người Mèo nấu cháo ngô cho ông ăn và nuôi ông. Thế là ông sống lại.

Ông sống lại một cách khỏe mạnh. Người Mèo cho ông ăn no so với sáu kư gạo cộng với sắn trong một tháng th́ cháo ngô đă làm ông hồi phục nhanh chóng.

Nhưng làm sao mà sống măi ở nhà họ được? Mà trốn trại th́ trốn về đâu? Và làm sao mà trốn thoát được. Giấy tờ không, tiền không, với 100km đường rừng, 300km đường bộ, ông đi làm sao được. Chỉ có một con đường độc nhất xuống núi th́ bị kiểm soát thật ngặt nghèo, ông làm sao đi thoát. Vậy chi bằng quay trở lại trại Cổng Trời là hơn cả.

Thế là ông quay về trại sáng hôm đó.

Nhưng phiền là ban giám thị trại đă báo cáo về bộ cái thành tích tiêu diệt tên phản động đội lốt thầy tu Đỗ Bá Lung rồi, và trên bộ đă gạch xóa tên Lung trong danh sách tù ở Cổng Trời rồi. Làm sao bây giờ? Phải có phương án nào chứ.

Hai hôm sau, có một xe com-măng-ca của bộ lên trại Cổng Trời. Ông Đỗ Bá Lung lên chiếc xe đó. Ông đi đâu? Và sẽ ra sao? Cho đến giờ chúng tôi cũng không biết ǵ hơn về Tu sĩ Đỗ Bá Lung, người đă chết và đă sống lại đó.

LTS - Ông Kiều Duy Vĩnh là một trong những chứng nhân của sự độc ác cùng cực của cai tù CSVN tại nhà tù “Cổng Trời” tỉnh Hà Giang. Ông mất ở Việt Nam ngày 7/7/2012 vừa qua, thọ 81 tuổi. Ông từng tốt nghiệp Vơ Bị cùng khóa với ông Nguyễn Cao Kỳ, là đại úy tiểu đoàn trưởng Nhảy Dù. Năm 1954 ông đă không theo đơn vị di cư vào Nam v́ lư do gia đ́nh. Ông đă bị bỏ tù hai lần 17 năm trong đó có nhiều năm ông bị giam ở “Cổng Trời,” nơi ông và một người nữa (ông Nguyễn Hữu Đang trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm) sống sót trong số 72 người tù ở cùng một phân trại. Ông kể lại những ngày tù ở “Cổng Trời” qua các hồi kư từng phổ biến trên tạp chí Thế Kỷ 21 cách đây hơn chục năm. Trong các hồi kư này, ông kể về sự kiên cường giữ vững niềm tin tôn giáo của các giáo dân, tu sĩ và linh mục Công Giáo mà ông gọi là “các Thánh Tử Đạo.”

 Kỳ 6

 1. Cuộc tuyệt thực

Tôi xin nhắc lại: Tôi không theo đạo Thiên Chúa, và điều ấy có thể đă làm cho tôi sống được đến hôm nay, năm 1994. V́ những người Cộng Sản căm những người theo đạo Thiên Chúa nhất nên tất cả mũi nhọn của nền chuyên chính đều chĩa vào họ.

Thứ nhất là các đấng bậc trong giáo hội, rồi đến các tu sĩ cả nam lẫn nữ. (Tôi đă gặp hai bà sơ bị bắt vào xà lim), rồi đến các chánh trương, trùm trưởng, cả đến hội trống hội kèn cũng bị bắt đi tù hàng loạt.

Tôi trông họ hiền lành, ngơ ngơ nói năng chẳng rơ họ mắc tội ǵ mà bị hành hạ đến như vậy: Họ có mỗi một tội là tin vào Chúa Jê Su. Thế thôi.

C̣n tôi, chả hiểu làm sao, tôi thiếu đức tin đó, và điều đó đă cứu tôi sống. Nói thế không có nghĩa là tất cả mọi người Công Giáo đi tù đều chết hết đâu. C̣n chứ, c̣n anh Thi, anh Thọ, chị Diệp những người trong vụ nổi loạn ở Ba Làng, Thanh Hóa năm 1954, c̣n Nguyện Công “Cửa” tức Môn, ngư dân vượt biển, c̣n Nguyễn Hữu Bổn người thôn Vạn Lộc, Nam Lộc, Nam Đàn...

Tôi có nghe nói lại là khi đọc lệnh tha anh Thi, anh không chịu ra khỏi tù, họ phải lôi anh ra, anh mới chịu ra.

Ngay cả giáo dân họ cũng kiên cường như vậy, thảo nào mà những người Cộng Sản đặt họ lại hàng đầu để tàn sát họ, tiêu diệt họ.

Cho đến hôm nay năm 1994, tôi vẫn mong mỏi gặp lại vài người c̣n sót lại trong số 72 người đầu tiên lên Cổng Trời mà vẫn chưa gặp lại ai, ngoài 1 người Cộng Sản là anh Nguyễn Hữu Đang.

Khi ở khu A c̣n thưa thớt người th́ tù ở các trại dưới được dồn lên để lấp vào các chỗ trống, nên có sự sắp xếp lại.

Tôi được chuyển sang khu B dưới quyền quản giáo mới tên là Duật người Nam Hà.

Khu B nhẹ hơn khu A, chế độ ăn uống có hơn đôi chút, được đi lao động nhẹ ở sân trại. Ba tháng được viết thư một lần và được phép nhận thư.

Tôi vừa chuyển sang khu B, chưa được viết thư về nhà th́ đă nhận được thư của mẹ tôi gửi lên với địa chỉ:

Công trường 75A Hà Nội C65 HE.

Mọi người đều ngạc nhiên, cả tôi nữa.

Lúc đó nhà tôi ở số nhà 7 phố Thi Sách gần ngay đằng sau Chợ Hôm-Hà Nội.

Tính từ khi lên Cổng Trời, đă được hơn 3 năm có lẽ tôi chưa được viết thư về nhà lần nào, thế mà tại sao mẹ tôi lại biết được địa chỉ này mà viết thơ cho tôi và mẹ tôi có biết là tôi đang ở Cổng Trời Hà Giang không?

Măi đến khi được tha tù lần thứ nhất (1970) tôi về gặp lại mẹ tôi, tôi mới rơ. Th́ ra sau khi tôi được chuyển lên Cổng Trời ố 1960 - thế là mất hết tin tức về tôi. Tất nhiên là mẹ tôi không chịu để mất. Mẹ tôi lên trại cũ ở Bất Bạt Sơn Tây để hỏi. Chánh giám thị trại là thiếu tá Thanh trả lời là ông ta không rơ!

Quay về Hà Nội mẹ tôi đến Bộ Công An ở phố Trần B́nh Trọng hỏi. Họ không cho vào gặp. Nhưng từ nhà tôi ở chợ hôm ra đến hồ Thiền Quang chưa đến 1km nên hầu như liên tục khi nào mẹ tôi dắt cháu đi chơi là mẹ tôi lại tạt vào quấy rầy họ. Đến nỗi người thường trực cứ trông thấy mẹ tôi là tránh mặt không tiếp.

Mẹ tôi cứ đi. Kiên tŕ dắt cháu đi hỏi. Hỏi măi. Riết rồi họ đành phải trả lời. Nhưng cũng mất 1 quăng thời gian là hơn 3 năm họ mới cho mẹ tôi cái địa chỉ đó: Công Trường 75A Hà Nội.

Mẹ tôi lại hỏi tiếp: Thế cái công trường này nó ở chỗ nào ở cái đất Hà Nội này. Họ bảo họ cũng không biết

Mẹ tôi đời nào chịu.

Và cuối cùng họ đành phải trả lời là tôi đang ở Cổng Trời Hà Giang.

Thế là mẹ tôi đi Hà Giang.

Đi với 2 bàn tay trắng: Không có mảnh giấy đi tiếp tế cho tù.

Quy định đi thăm tù phải có giấy giới thiệu của địa phương cấp, mà địa phương được lệnh không cấp giấy cho mẹ tôi v́ thành phần gia đ́nh tôi là địa chủ cường hào đại gian đại ác. Bố th́ bị bắn chết trong cải cách ruộng đất, c̣n tôi th́ đi tù nên gia đ́nh tôi là đối tượng của cách mạng cần phải chuyên chính. Mặc, không có giấy giới thiệu mẹ tôi vẫn cứ đi.

Nhưng lên được đến Hà Giang, chưa qua được đèo Quyết Tiến th́ bị công an theo dơi và bắt quay về Hà Nội.

Mẹ tôi đành viết thơ cho tôi theo địa chỉ trên. Thế là tôi nhận được thư.

Thế ra mẹ tôi vẫn c̣n sống và tôi, tôi vẫn c̣n sống.

Cũng có 1 phần do mẹ tôi không chịu mất dấu vết của tôi, làm phiền họ, quấy rầy họ, mà trên Bộ Công An chưa bật đèn xanh cho ban giám thị trại xóa tên tôi trong danh sách tù nhân ở Cổng Trời này.

Đă có lần họ cho người giả làm tù ở cùng trại với tôi về báo tin là tôi đă chết. Nhưng mẹ tôi khăng khăng không tin. Mẹ tôi cứ làm tới, sấn tới, và điều đó phần nào đă cứu sống tôi.

Vả lại ở trên Cổng Trời này, đối với các bậc như cha Vinh, cha Quế, tu sĩ Đỗ Bá Lang, tu sĩ Nguyễn Trung Chính tức Nhẫn, tôi là hạng bét so với các đấng bậc ấy nên mũi nhọn của cuộc tàn sát không chĩa vào tôi. Ban giám thị trại đem so tôi với các bậc thánh đó thấy rằng tôi là một phần tử tiến bộ trong số này.

Này nhé: Tôi không cầu kinh, không làm dấu thánh, không ăn chay trước lễ Phục Sinh. Không cần nghi lễ Giáng Sinh, thế là tôi chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của Ban Giám Thị rồi c̣n ǵ nữa.

C̣n với các đấng bậc kia.

Cấm cầu kinh, cứ cầu

Cấm làm dấu thánh trước khi ăn. Cứ làm. Ngày lễ Giáng Sinh cứ nghỉ không chịu đi làm.

Và nhất là chuyện tôi cứ ăn không chịu tuyệt thực cùng các vị đó khi có lệnh cấm làm dấu thánh trước khi ăn.

Câu chuyện tuyệt thực xảy ra như sau: “...Đây là nhà tù, chứ không phải là nhà thờ của các anh, nên cấm mọi hành vi tôn giáo và tịch thu mọi thứ: thánh giá, kinh bổn, tràng hạt.” Tịch thu th́ được. C̣n cấm th́ hơi khó hơn, nếu không nói là không cấm được.

Cấm cầu kinh các vị ấy cứ cầu, v́ làm thế nào mà biết các vị đang cầu kinh?

LTS - Ông Kiều Duy Vĩnh là một trong những chứng nhân của sự độc ác cùng cực của cai tù CSVN tại nhà tù “Cổng Trời” tỉnh Hà Giang. Ông mất ở Việt Nam ngày 7 tháng 7, 2012 vừa qua, thọ 81 tuổi. Ông từng tốt nghiệp Vơ Bị cùng khóa với ông Nguyễn Cao Kỳ, là đại úy tiểu đoàn trưởng Nhảy Dù. Năm 1954 ông đă không theo đơn vị di cư vào Nam v́ lư do gia đ́nh. Ông đă bị bỏ tù hai lần 17 năm trong đó có nhiều năm ông bị giam ở “Cổng Trời,” nơi ông và một người nữa (ông Nguyễn Hữu Đang trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm) sống sót trong số 72 người tù ở cùng một phân trại. Ông kể lại những ngày tù ở “Cổng Trời” qua các hồi kư từng phổ biến trên tạp chí Thế Kỷ 21 cách đây hơn chục năm. Trong các hồi kư này, ông kể về sự kiên cường giữ vững niềm tin tôn giáo của các giáo dân, tu sĩ và linh mục công giáo mà ông gọi là “các Thánh Tử Đạo.”

 

 Kỳ 7

 

Ăn xong, rồi ngồi chơi nh́n nhau. Im lặng không nói chuyện, không đi lại, thế là cầu kinh đấy.

Chỉ có đêm đến, lệnh cấm ngồi là có hiệu lực, chứ ban ngày chả nhẽ lại cấm ngồi bắt nằm măi sao.

Ban Giam Thị uất lắm!

Sau chuyện tu sĩ Đỗ Bá Lang, chánh giám thị Nguyễn Quang Sáng tỏ ra quyết liệt hơn, cứng rắn hơn, dấn tới một bước nữa.

Cấm triệt để làm dấu thánh trước khi ăn cơm. Nhưng lần này th́ Nguyễn Quang Sáng phải chịu thua.

“Ai cho các anh ăn?”

“Chúng tôi. Chúng tôi cho các anh ăn chứ không có Chúa nào cho các anh ăn cả.”

“Cấm cầu kinh, các anh vẫn lén lút cầu kinh vậy bây giờ trước khi ăn, tôi cấm các anh làm dấu. Các anh phải cảm ơn người cho các anh ăn. Đúng lắm, nhưng đó là chúng tôi đây chứ không có chúa nào hết. Không có con mẹ Maria, thằng Jê su nào cả. Biết chưa?”

(Nguyên văn như vậy, tôi xin lỗi các vị phải viết đúng, không dám xuyên tạc, bịa đặt, báng bổ ǵ).

Và đến bữa ăn. Quản giáo đứng đó. Mọi lần th́ cửa mở, chúng tôi bê cơm vào trong pḥng. Đóng cửa lại. Chúng tôi chia nhỏ từng xuất một và ăn. Không có sự hiện diện của ai cả.

Nhưng hôm ấy, bê cơm vào, cửa vẫn mở, Quản Giáo đứng đó kiểm soát và nhắc lại lệnh cấm của Ban Giám Thị.

 

Tất cả, cả tôi, không ai phải bảo ai, không chia cơm ra ăn. Đứng măi chán, Quản Giáo đóng cửa lại đi về.

Đến chiều, tù nhà bếp đến lấy thùng. Cơm canh vẫn nguyên. Cơm canh đều chia vào hai cái thùng gỗ to, chứ không chia thành một phần như ở xà lim.

 

Buổi chiều, đích thân chánh giám thị xuống, mọi việc lại diễn ra đúng như buổi sáng. Mặt tái v́ giận dữ. Nhưng làm thế nào mà bắt họ ăn cho được?

 

Không có khí thế hừng hực đấu tranh như những người Cộng Sản ở Sơn La, Côn Đảo tuyệt thực, không có hô khẩu hiệu, tất cả đều lặng lẽ ngồi im.

 

Không thể dùng lưỡi lê và sức mạnh để nhét cơm vào mồm họ được.

 

Họ không ăn, thế thôi. Không ḥ reo, không gơ bát, gơ đĩa, không ai diễn thuyết, kích động, yêu sách điều ǵ.

Im lặng, ai ngồi chỗ ấy. Giám thị Sáng đứng đó, không một ai thèm nh́n vào mặt ông ta cả. Tất cả đều quay mặt đi chỗ khác.

Giám thị Sáng đành phải ra về.

Đêm đến: Tôi đói không thể nào ngủ được. Đă một ngày trôi qua, và hai bữa không ăn. Suốt mười năm tù đầu tiên, tôi không bỏ một bữa cơm nào, ngoài hai bữa hôm ấy.

Chỉ có khi nào đến ngày giỗ người sinh ra tôi bị bắn chết, là tôi lặng lẽ khai ốm và báo cháo, v́ tôi nghĩ: Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết.

Dạ dầy tôi là dạ dày thép, nó ngốn và nghiền nát tất cả mọi thứ mà đối với người khác b́nh thường, cùng tù với tôi cũng không kham nổi.

 

Sắn sống, khoai sống, ngô sống, om on sống, cả cây ngô non tôi cũng ăn được, khoai hà chỉ có ngỗng mới ăn, tôi cũng ăn được khoai sọ tôi ăn cả vỏ, dong riềng ăn cả vỏ, có lần đi làm tôi lẩn vào ruộng trồng đỗ Mèo ních một bụng quả đỗ sống, chiều về say gần chết.

 

Ra suối tắm, quả vả mọc hoang tôi bứt ăn, cũng say gần chết.

 

Chỉ gần chết thôi chứ chưa chết hẳn. Ngất ngư lảo đảo thôi.

 

Sắn ăn say, ngày nào mà tôi chả say sắn, mà theo cái đầu óc ngu dốt của tôi chính có lẽ do say sắn triền miên mà tôi vẫn c̣n sống đến hôm nay.

Chả là rét quá, tôi bị sưng phổi. Cứ thấy ho, sốt, rồi tôi không dám nói láo cứ cúi xuống ngẩng lên là nghe trong phổi có tiếng óc ách...

 

Ở Cổng Trời không phải khai ốm, v́ có c̣n khai với ai được. Ốm mặc, không có thuốc men ǵ hết.

Quản giáo trực thấy tôi nằm ốm, hỏi làm sao. Hỏi để mà hỏi. Rồi thôi. Để đấy. Tôi cứ ăn sắn, say sắn. Và rồi khỏi. Mọi người: đều coi chuyện đó là chuyện thường t́nh.

Măi đến khi về, năm 1970 tôi đi khám ở bệnh viện A để kiểm tra phổi. Sau khi chụp X quang, kết luận: dầy dính màng phổi. Bác sĩ Kim hỏi tôi là tôi bị sưng phổi bao giờ và ở đâu hút cho.

Tôi trả lời là quên mất thời gian và chưa ai hút ra bao giờ. Bác sĩ Kim rất ngạc nhiên.

 

Qua chuyện trên, tôi đi đến kết luận là Acide Cyavidrique nghĩ thế, theo đầu óc ngu dốt của tôi thôi. Ở Cổng Trời, khu nọ cách biệt với khu kia bằng một hàng rào bao quanh khu. Cấm liên lạc nhưng khi trả thùng cơm canh, th́ đem đến một cái sân chung để nhà bếp tiện lên lấy. Có lần khu C: họ được mua sắn cải thiện để ăn thêm. Chả hiểu sao cả khu say, và chết đâu mất năm người.

 

Sáng ra, quản giáo trực vào thấy chết v́ say sắn bèn ra lệnh tịch thu số sắn c̣n lại, cấm không cho ăn, và đem ra tập trung ở chỗ trả thùng cơm.

 

Hôm ấy đến lượt tôi bưng thùng ra trả. Tôi thủ ngay gối một thùng sắn luộc rồi giấu vào bụng đem về buồng ăn.

 

Cái vị tu sĩ bảo tôi: Họ ăn chết hàng loạt kia ḱa, lấy về làm ǵ?

 

Tôi bảo: Họ có nhiều họ ăn mới chết! Chứ ḿnh cứ củ một ăn, chết thế nào được. Và tôi ăn. Ăn củ một, thấy đắng quá th́ thôi. Hơi say một chút chẳng sao cả. Và những chất say ở sắn đă làm tôi khỏi bệnh phổi, làm tôi no, và có thêm một hiện tượng là hai bên quai hàm tôi to bạnh ra. Say sắn có khổ nhưng không khổ bằng đói: tôi chọn cái ít khổ hơn.

 

Điều này là sự thật 100%, cứ ăn sắn nhiều là hai bên quai hàm to bạnh ra. Xin các nhà khoa học giải thích hộ cho. Kể lại với quư vị như thế, để quư vị biết tôi đói đến thế nào. Tôi đói lắm ấy!

 

12 kg cả gạo cả sắn một tháng, với sức tôi cao 1m76 nặng 78kg và ba mươi tuổi th́ các vị chắc cũng hiểu cho được.

 

 

 


 

SOUNDBITE:

"Right now I fight not only for my honour, not only for money but also for the future of America that is exactly what I want to see in the United States of America because I think this nation is the best nation of humans."

Ha Van Son, Former South Vietnamese Commando. June 19/1996

SERVED IN A NOBLE CAUSE

 

 

 

Vietnamese commandos : hearing before the Select Committee on Intelligence

of the United States Senate, One Hundred Fourth Congress, second session ...

Wednesday, June 19, 1996

 

CLIP RELEASED JULY 21/2015

https://www.youtube.com/watch?list=PLEr4wlBhmZ8qYiZf7TfA6sNE8qjhOHDR6&v=6il0C0UU8Qg

Vietnamese commandos : hearing before the Select Committee on Intelligence of the United States Senate, One Hundred Fourth Congress, second session ... Wednesday, June 19, 1996

Published on Jul 21, 2015

English/Nat

 

South Vietnamese commandos trained by the US and dropped into the communist North during the Vietnam war are still campaigning for back pay they claim they are owed.

 

Many of the South Vietnamese were captured, tortured or killed after they were dropped into enemy territory.

 

Those who survived the ordeal returned to the US - only to discover that the US government had written them off as dead and had stopped paying their families.

 

South Vietnamese trained by the US military attended a Congressional hearing Wednesday - another step in their fight to get back pay they say the US still owes them.

 

SOUNDBITE:

"Our government is not facing up to the facts. Not facing up to basic humanity."

SUPER CAPTION: Senator Arlen Specter, (R - Pennsylvania) Chairman of Foreign Intelligence Sub-Committee

 

About 500 commandos infiltrated into North Vietnam as part of a disastrous US operation throughout the 1960s.

 

Many of them were killed - others were captured and put in prison.

 

But nearly 200 survived - only to discover that during their stay in jail the US government declared them killed in action and stopped paying their salary to their families.

 

The survivors - who now live in the US - have filed a lawsuit in the US Court of Claims in an effort to obtain two-thousand US dollars each for every year they spent in prison.

 

They're supported by Vietnam veteran and Senator John Kerry and other members of Congress who served in Vietnam.

 

They are filing legislation authorising the payment to the commandos.

 

SOUNDBITE:

"In a sense one of the things they have indicated that they want more perhaps than even money is this process of public acknowledgement for what they went through and the service they gave."

SUPER CAPTION: Senator John Kerry, (D - Massachusetts) Vietnam Veteran

 

The lawyer for the Vietnamese commandos says it is important to find out exactly what happened to the South Vietnamese.

 

SOUNDBITE:

"The hearing was to look into the issue of how prisoners of war have been left behind, how prisoners of war have been written off as dead, when we knew they were living. And how we treat those who serve and suffer on our behalf."

SUPER CAPTION: John C Mattes, Lawyer

 

One of the commandos officially back from the dead, Ha Van Son, told a Senate committee how he was abandoned to years of imprisonment in North Vietnam.

 

He went on to accuse the US of breaking its promise to care for his family.

 

SOUNDBITE:

"Right now I fight not only for my honour, not only for money but also for the future of America that is exactly what I want to see in the United States of America because I think this nation is the best nation of humans."

SUPER CAPTION: Ha Van Son, Former South Vietnamese Commando

 

The government has asked for dismissal of the commandos' suit because it involves a secret contract for a covert operation and therefore is unenforceable in US courts.

 

But it supports senator Kerry's legislation which has passed the Senate on a voice vote as an amendment to the Defence Authorisation bill.

 

 

You can license this story through AP Archive: http://www.aparchive.com/metadata/you...

Find out more about AP Archive: http://www.aparchive.com/HowWeWork

Category

News & Politics

License

Standard YouTube License

 

 


  

 

US SENATE APPROVED VIETNAMESE COMMANDOS COMPENSATION BILL

http://www.c-span.org/video/?73094-1/senate-session&start=15807

BẮT ĐẦU TỪ PHÚT 4:22:12 - 4:52:10  (13.20 - 13.50)

 


Liên lạc trang chủ

E Mail: kimau48@yahoo.com, kimau48@gmail.com

Cell: 404-593-4036

 

Những người lính một thời bị lăng quên: Viết Lại Lịch Sử

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Liên lạc trang chủ

E Mail: kimau48@yahoo.com, kimau48@gmail.com

Cell: 404-593-4036

 

Tặng Kim Âu


Chính khí hạo nhiên! Tổ Quốc t́nh.
Nghĩa trung can đảm, cái thiên thanh.
Văn phong thảo phạt, quần hùng phục.
Sơn đỉnh vân phi, vạn lư tŕnh.


Thảo Đường Cư Sĩ.

 

 

Your name:


Your email:


Your comments:


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



 

 

http://www.chinhnghia.com/

http://www.kimau.com

http://www.tinhhoa.org

http://www.sos.state.tx.us/corp/forms_boc.shtml

http://chinhnghiaviet.informe.com/forum/

http://nguoidalat.informe.com/forum/

http://chinhnghiamedia.informe.com/forum/

http://huongduongtxd.com/internet_links.html

 

 

 

 

 

 

 

 

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

White House National Archives Federal Register

Associated Press Reuter News Real Clear Politics  

MediaMatters C-SPAN o Videos Library Judicial Watch  

New World Order Illuminatti News New Max CNS

Daily Storm Observe American Progress 

The Guardian Political Insider Ramussen Report 

Wikileaks  The Online Books Page American Free Press

National Public Radio National Review - Public Broacast

Federation of Anerican Scientist Propublica Inter Investigate  

ACLU Ten  CNBC  Fox News  CNN  Fox Atlanta

Indonesian Newspapers  Philippine Newspapers 

Nghiên Cứu Quốc Tế  Nghiên Cứu Biển Đông 

Thư Viện Quốc Gia1Thư Viện Quốc Gia Học Viện Ngoại Giao  Tự Điển Bách Khoa VN Ca Dao Tục Ngữ Bảo Tàng Lịch Sử

Nghiên Cứu Lịch Sử Dấu Hiệu Thời Đại Viêt Nam Văn Hiến 

QLVNCH Đỗ Ngọc Uyển  Thư Viện Hoa Sen  Vatican?

RomanCatholic Khoa HọcTV Sai Gon Echo Viễn Đông Daily

Người Việt Việt Báo Việt List Xây Dựng Phi Dũng

Việt Thức Hoa Vô Ưu Đại Kỷ Nguyên Việt Mỹ Bia Miệng

Việt Tribune Saigon Ti USA Người Việt Seatle Dân Việt

Việt Luận  Cali Today Nam ÚcTuần Báo DĐ Người Dân  

Tin Mới Tiền Phong Xă Luận Dân Trí Tuổi Trẻ Express

Lao Động Thanh Niên Tiền Phong Tấm Gương Sài G̣n

Sách Hiếm ThếGiới Đỉnh Sóng Chúng Ta Eurasia 

ĐCSVN Bắc Bộ Phủ Nguyễn Tấn Dũng BaSàm Thơ Trẻ

Văn Học  Điện Ảnh Cám Ơn Anh TPBVNCH 1GĐ/1TPB